3.1
Mô hình trồng cây dó bầu trên đất rừng nghèo kiệt:
Đây
là loại rừng đã bị con người khai thác cạn kiệt về mặt kinh
tế lẫn sinh thái. Việc trồng cây dó bầu trên loại đất này
nhằm khôi phục lại khả năng phòng hộ cũng như giá trị kinh
tế của rừng. Đối với mô hình này chúng ta xử lý thực bì
theo băng. Mỗi băng có chiều rộng bằng 1/3 – 1/2 so với
chiều cao trung bình của cây rừng. Băng trồng phải được
dọn dẹp sạch sẽ, chặt cây sát gốc sau đó đào hố trồng.
3.2 Mô hình trồng cây dó bầu trên
đất vườn hộ:
Có
thể trồng cây dó bầu ngay trên đất vườn hộ, vì cây dó bầu
là cây chịu bóng (nhất là ở giai đoạn 2 – 3 năm tuổi) cho
nên ta có thể trồng xen trong vườn hộ để nhằm tăng thêm
thu nhập cho khu vườn.
Mô
hình này thích hợp cho những hộ gia đình không có điều kiện
sản xuất trên quy mô lớn.
Đối
với mô hình này chúng ta xử lý thực bì quanh hố đào với
đường kính từ 1-2m sao cho cây trong vườn không làm ảnh
hưởng đến cây dó bầu. Những năm tiếp theo ta tiến hành phát
dọn xung quanh để điều chỉnh tán che cho thích hợp với độ
tuổi của cây dó bầu.
3.3 Mô hình trồng cây dó bầu trên
đất rừng sau nương rẫy (trồng thuần):
Đây
là mô hình trồng phổ biến hiện nay, mang lại lợi nhuận rất
cao cho người trồng. Với mô hình này cây dó bầu có thể từ
từ thay thế những cây trồng khác kém hiệu quả như cà phê,
cây ăn trái…
Đất
rừng sau nương rẫy có thể là những dạng đất đã trồng cây
ngắn ngày (như đậu, bắp…) hoặc trồng những cây công nghiệp
dài ngày (như cà phê, cây ăn trái…) đã đến chu kỳ thanh
lý.
Đối
với vườn cây đã thanh lý (cây lâu năm) hoặc đất đã thu hoạch
cây trồng vụ trước (cây hàng năm), ta tiến hành phát dọn
toàn bộ thực bì như cỏ dại, cây bụi…sau đó tiến hành đào
hố trồng mà không cần phải qua công đoạn cày bừa.
Đối
với vườn cây chưa thanh lý ta nên tận dụng những cây này
làm cây che bóng cho cây dó bầu ở giai đoạn 2-3 năm tuổi.
Sau khi cây dó bầu đã lớn ta tiến hành thanh lý vườn cây
trồng trước.
3.4 Mô hình trồng xen cây dó bầu với
cây lâu năm hoặc cây hằng năm:
3.4.1 Trồng xen với cây lâu năm:
Cây
dó bầu có thể trồng xen với cây lâu năm như cây ăn trái,
cà phê, tiêu, điều…mà không làm ảnh hưởng đến năng suất
và chất lượng của cây trồng xen. Trái lại, vì cây dó bầu
là cây chịu bóng nhất là khi cây còn nhỏ, việc trồng xen
trong vườn cây lâu năm là rất thích hợp, giúp cây con chống
chịu với thời tiết khô hạn tốt hơn. Chúng ta tiến hành đào
hố và trồng cây dó bầu xen giữa các hàng cây trồng cũ. Tùy
vào khoảng cách và đặc điểm của từng loại cây khác nhau
mà ta bố trí khoảng cách trồng cây dó bầu cho hợp lý.
Ví dụ: Ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên người ta trồng cây
dó bầu để làm cây che nắng cho cây cà phê, cứ 3 hoặc 4 hàng
cà phê người ta trồng 1 hàng dó bầu. Do thừa hưởng lượng
nước tưới từ cây cà phê mà cây dó bầu phát triển rất nhanh,
chỉ sau trồng 4-5 năm cây dó bầu cao 15-20 m.
3.4.2 Trồng xen với cây ngắn ngày (bắp, đậu phọng, khoai
mì…):
Việc
trồng xen cây dó bầu với cây ngắn ngày có thể được thực
hiện ở 2-3 năm đầu (khi cây dó bầu chưa giao tán) theo phương
châm lấy ngắn nuôi dài, vừa kết hợp việc chăm sóc cây trồng
xen với việc chăm sóc cây dó bầu. Ngoài ra cây trồng xen
tạo ra lớp che phủ giúp chống xói mòn, giữ ẩm và cải tạo
đất (Cây họ đậu). Một số cây như bắp, mì trở thành cây che
bóng cho cây dó bầu khi còn nhỏ. Sau thu hoạch xác bã cây
trồng xen có thể dùng để tủ gốc giữ ẩm cho cây dó bầu vào
mùa nắng. |
Tùy
theo mô hình trồng mà ta có mật độ và khoảng cách trồng
khác nhau.
4.1 Với mô hình trồng trên đất vườn
hộ, trên đất rừng nghèo kiệt hoặc trồng xen:
Tùy theo đặc điểm của cây trồng xen cũng như mục đích của
việc trồng xen mà ta điều chỉnh khoảng cách và mật độ trồng
cho hợp lý. Thông thường ta có thể bố trí khoảng cách cây
cách cây 4m, hàng cách hàng 5-6m, mật độ từ 400-500cây/ha.
4.2 Với mô hình trồng thuần (Đất rừng
sau nương rẫy):
- Đối với đất trồng có địa hình bằng phẳng ta có thể bố
trí hố trồng theo hình nanh sấu, nghĩa là hố đào phải nằm
vào khoảng giữa hai hố của hàng bên cạnh, hàng cách hàng
3m, cây cách cây 3m, mật độ từ 1000 – 1100 cây/ha. Hoặc
ta bố trí hố trồng theo cụm hình tam giác đều, cây cách
cây 1,5m, cụm cách cụm 2-3m, mật độ từ 1600 đến 2000 cây/ha.
Cách bố trí này có hai lợi điểm, vừa giúp cây nương nhau
chống chịu với gió bão vừa đỡ làm giàn cấy thuốc tạo trầm
sau này.
- Đối với đất đồi dốc ta nên bố trí hố trồng theo đường
đồng mức để hạn chế sự xói mòn.
5. Đào hố bón lót phân:
5.1 Kích cỡ hố trồng:
Kích
thước hố trồng lớn hoặc nhỏ điều có ảnh hưởng trực tiếp
đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Tùy
vào loại đất tốt hay xấu mà ta có kích cỡ hố đào khác nhau.
Nếu
kích cỡ hố trồng quá nhỏ (nhỏ hơn 40x40x40cm) sẽ hạn chế
sự phát triển của bộ rễ cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.
Mặt khác hố đào càng nhỏ lượng phân bón lót vào hố ít hơn,
khả năng giữ nước xung quanh vùng rễ cũng kém hơn so với
hố đào rộng và sâu. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình phát triển của cây con sau trồng và làm giảm khả năng
chống chịu của cây khi gặp những điều kiện bất lợi như nắng
hạn hay gió bão. Nếu đất trồng giàu dinh dưỡng, tầng canh
tác tơi xốp thì nên đào hố nhỏ để tiết kiệm công lao động.
Nếu
kích cỡ hố đào lớn (60x60x60m) giúp cây sinh trưởng và phát
triển nhanh nhưng tốn nhiều công lao động (kể cả công đào
hố và công lấp hố). Tuy nhiên, trong một vài trường hợp
như đất trồng nghèo dinh dưỡng, cây con tương đối lớn (chiều
cao cây từ 0,7m trở lên) thì kích cỡ hố đào càng lớn càng
tốt. Một ví dụ cho thấy, Ông Chính Cừ ở Phú Yên, khi trồng
cây dó bầu ở vùng đất cát trắng ven biển, ông đào hố có
kích thước 60x60x60cm sau đó bón nhiều phân chuồng vào hố
và thường xuyên tưới nước. Kết quả, sau trồng 18 tháng cây
của ông cao gần 3m.
Thông
thường kích cỡ hố đào vào khoảng 40x40x40m là tương đối
thích hợp, vừa có thể tiết kiệm công lao động vừa không
gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cây sau trồng.
5.2 Bón lót phân:
- Khi đào hố trồng, lớp đất mặt nên để riêng một bên, sau
đó dùng lớp đất này trộn đều với phân bón lót để lấp hố.
- Phân bón lót gồm 2-3 kg phân chuồng hoai, 100-200gr N-P-K
(Tỉ lệ: 16-16-8) cho một hố.
- Hố lấp xong phải cao hơn mặt đất tự nhiên 2-3cm.
- Công việc bón phân lấp hố phải hoàn thành trước khi trồng
15 – 30 ngày.
6. Kỹ thuật trồng và chăm
sóc:
6.1 Kỹ thuật trồng:
6.1.1 Huấn luyện cây con:
Trước
khi trồng khoảng 1 – 2 tháng chúng ta tiến hành huấn luyện
cây con ở trong vườn ươm để tập cho cây thích nghi dần với
điều kiện bên ngoài như dỡ dần giàn che nắng, giảm lượng
nước tưới cũng như kéo dài chu kỳ tưới.
*Chú ý: Nếu vận chuyển cây đi xa, nên để cây từ 10-15 ngày
trong bóng mát và thường xuyên tưới nước, khi cây hoàn toàn
hồi phục thì mới đem trồng.
6.1.2 Tuyển chọn cây con:
Khi
xuất vườn đem trồng cần phải tuyển chọn cây con có đầy đủ
các tiêu chuẩn sau đây:
- Cây con khỏe mạnh, không sâu bệnh.
- Cây con phải có bầu đất, không bị mất ngọn.
- Cây từ 6 tháng tuổi trở lên.
- Chiều cao cây từ 30 – 50 cm.
- Đường kính thân (nơi tiếp giáp với mặt đất) khoảng 0.35
cm.
6.1.3 Cách trồng cây con:
Khi
vận chuyển hoặc khi xé vỏ bầu để trồng tránh làm vỡ đất
bầu hoặc làm xây xát cây con. Dùng cuốc nhỏ moi một lỗ vừa
với bầu đất, đặt cây ngay ngắn thân thẳng rồi lấp đất đều
và chèn chặt, sau dó vun đất quanh gốc cao hơn lớp đất mặt
4-5 cm.
* Chú ý: Trước khi trồng nên
tiến hành kiểm tra ẩm độ đất bên trong hố đào, nếu đất thiếu
ẩm ta phải tưới nước ngay trước hoặc sau khi trồng. Sau
trồng khoảng 7 ngày không mưa thì phải tưới. Sau khi trồng
khoảng 2 tuần, cây bắt đầu ra lá non và bước vào giai đoạn
phát triển.
6.2 Các biện pháp chăm sóc cây dó
bầu sau khi trồng:
6.2.1 Trồng dậm: Sau trồng 1-2 tháng kiểm tra cây và tiến
hành trồng dậm. Cây chết có thể do bể bầu khi trồng, do
bị ngập úng hoặc do thú rừng cắn phá...
6.2.2 Bón phân: Trong hai năm đầu cần bón thúc phân N-P-K
cho cây và chia làm 2 đợt bón, vào đầu mùa mưa và cuối mùa
mưa. Lượng phân mỗi lần bón khoảng 200gr/cây.
Nên kết hợp bón phân với làm cỏ, xới xáo quanh gốc đường
kính từ 0,8 – 1,0m. Bón phân cách gốc 20-30cm, sâu 20cm.
* Chú ý:
Ở
lần bón thứ nhất (đầu mùa mưa) tỉ lệ N (đạm) và P (lân)
nhiều hơn K (kali). Ở lần bón thứ hai (cuối mùa mưa) nên
gia tăng lượng K giảm bớt lượng N và P. Vì ở lần bón cuối,
thời tiết chuẩn bị bước vào mùa khô, nếu bón nhiều N cây
sẽ phát triển xanh tốt, sức chịu hạn của cây giảm, dẫn đến
hiện tượng rìa lá bị cháy hoặc lá bị khô rụng. Ngược lại
bón nhiều K sẽ tăng cường khả năng chống chịu của cây với
điều kiện môi trường.
6.2.3 Tưới nước: Chỉ tưới nước cho cây ở 2 – 3 năm đầu vào
mùa nắng.
- Năm thứ nhất: Sau trồng 06 tháng thời tiết bước vào mùa
nắng, 1 tuần lễ tưới 1 lần.
- Năm thứ 2: (cây được 1 năm tuổi) 2 tuần tưới 1 lần.
- Năm thứ 3: (Cây được 2 năm tuổi) : 1 tháng tưới 1 lần.
Tuy nhiên, tùy vào điều kiện đất đai cũng như điều kiện
thời tiết của mỗi vùng mà ta điều chỉnh lượng nước tưới
và chu kỳ tưới sao cho phù hợp với nhu cầu thưc tế của cây
trồng.
Để hạn chế quá trình bốc thoát hơi nước vào mùa nắng nên
dùng xác bã thực vật như rơm rạ, thân cây họ đậu…tủ xung
quanh gốc cây.
6.2.4 Làm cỏ: Kết hợp làm cỏ, xới xáo và bón phân, phát
cây bụi, dây leo. Nếu trồng theo băng ở rừng nghèo kiệt,
trong vườn hộ hoặc trồng xen với cây lâu năm thì phải thường
xuyên điều chỉnh tán che để đến năm thứ tư cây dó bầu có
đủ ánh sáng. Đặc biệt, nên chú ý công tác phòng chóng cháy
vào mùa khô.
6.2.5 Tỉa nhánh: Cây dó bầu được hai năm tuổi thì tiến hành
tỉa nhánh. Mỗi cây chừa từ 15 – 20 nhánh mọc từ thân chính
(nhánh sơ cấp). Mỗi năm tỉa 4 đợt mỗi đợt cách nhau 3 tháng.
Chú ý khi tỉa nhánh tránh làm tróc vỏ thân chính.
Tỉa nhánh nhằm tạo cho cây suông, thẳng để đến tuổi xử lý
tạo trầm dễ dàng hơn. Ngoài ra tỉa nhánh cũng là một trong
những cách tạo trầm vì gây ra vết thương cơ giới tạo điều
kiện cho nấm bệnh xâm nhập vào thân cây. Ngày nay, nhánh
cây dó bầu được tận thu để làm bột nhang do đó việc tỉa
nhánh còn mang lại nguồn thu đáng kể cho người trồng.
6.2.6 Phòng trừ sâu bệnh hại:
- Sâu hại: Cây dó bầu ở giai đoạn từ 4 – 8 tháng tuổi thường
xuất hiện các loại sâu ăn lá và sâu đục thân. Có thể dùng
các hóa chất diệt trừ như Trebon 1,5-2ml/1lít nước hoặc
có thể thay thế bằng Confidor (Liều lượng theo khuyến cáo
của nhà sản xuất). Tốt nhất là nên phun thuốc theo định
kỳ, khoảng 20 – 30 ngày phun một lần
Ở giai đoạn cây lớn có thể nuôi kiến vàng hoặc dùng đèn
bẫy bướm để hạn chế sâu đục thân.
- Bệnh hại: Cây dó bầu thường biểu hiện các loại bệnh sinh
lý như đất bị ngập úng hoặc bị đóng váng hay bó chặt…có
thể làm cây chậm lớn hoặc bị chết. Để khắc phục tình trạng
này phải thường xuyên xới xáo và thoát nước cho cây.
Đối với cây còn nhỏ, vào mùa mưa thường xuất hiện bệnh thối
đen thân, bệnh lở cổ rễ…có thể dùng hóa chất BAYPHYZAN để
phòng ngừa và trị bệnh.
Trong tự nhiên, cây dó bầu thường bị nhiễm bởi các loài
nấm như: Aspergilus spp; Botryodplodia spp; Diplodia spp;
Fusarium bulbiferum; Fusarium laterium; Fusarium oxysporum;
Fusarium solani; Penicillium spp và Pythium spp.
Tùy từng đối tượng gây bệnh mà ta có hóa chất và biện pháp
phòng trừ khác nhau. Tuy nhiên, biện pháp hữu hiệu nhất
là nên thực hiện tốt công tác phòng bệnh như luôn tạo cho
vườn cây thông thoáng không bị ngập úng, phân bón phải cân
đối và đúng liều lượng
Tham
khảo nguyên nhân gây ra hiện tượng chết cây dó bầu sau trồng
có tỉ lệ cao.
|