I.
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TRẦM HƯƠNG.
II. ĐẶC ĐIỂM THỰC
VẬT HỌC CÂY DÓ BẦU.
III. ĐẶC TÍNH VÀ
CÔNG DỤNG CỦA TRẦM HƯƠNG.
IV. Q/T HÌNH THÀNH
TRẦM HƯƠNG VÀ KỸ THUẬT CẤY TẠO TRẦM.
V. KỸ THUẬT GIEO
- TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DÓ BẦU.
VI. HIỆU QUẢ KINH
TẾ. |
II. ĐẶC ĐIỂM THỰC
VẬT HỌC CÂY DÓ BẦU.
1.Đặc điểm hình thái :
1.1 Thân cây:
Cây dó bầu là một loại cây gỗ lớn, cao khoảng 30-40m, nhưng
phổ biến nhất là từ 15-25m, đường kính thân khoảng 60cm,
vỏ ngoài nhẵn, màu xám, thịt vỏ màu trắng có nhiều chất
xơ (cellulo) và dễ tách ra khỏi thân. Thịt gỗ màu vàng nhạt,
chất gỗ mềm có tỉ trọng 0.395. Cành non phủ lông mềm màu
vàng xám
|
1.2 Lá:
Lá đơn, mọc cách (so le), có hình bầu dục,
hình trứng hay hình ngọn giáo, nhọn ở gốc thon hẹp ở đầu.
Phiến lá mỏng dài 8-15 cm, rộng 4-6 cm. Mặt trên phiến lá
nhẵn bóng có màu xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn có lông mềm.
Cuống lá dài từ 4-5mm cũng có lông.
|
|
|
1.3 Hoa:
Hoa lưỡng tính, hoa tự hình tán hay chùm mọc ở nách lá,
hoa màu trắng tro. Đài hoa hình chuông (loa kèn) có lông
ở miệng.
1.4 Quả:
Quả nang, hình quả lê hơi dẹp, dài 4cm,
rộng 3cm, dày 2cm. Vỏ quả mở thành hai mảnh xốp (khi chín
tự tách ra), mỗi quả có từ 1-2 hạt. |
1.5
Hạt: Có hai phần, phần chính ở phía
trên hình nón, phần kéo dài ở phía dưới. Hạt khi chín có
màu nâu, phần vỏ ngoài cùng hóa gỗ cứng, bên trong mềm có
chứa nhiều dầu. Một đặc điểm cần chú ý là hạt dó bầu có
đời sống rất ngắn (short-lived), không lưu trữ lâu ngày
được. Trong tự nhiên khi hạt chín và rụng xuống đất nếu
gặp điều kiện ẩm độ thích hợp là nảy mầm ngay. Việc lưu
trữ hạt kéo dài quá một tuần lễ, tỉ lệ nảy mầm sẽ giảm 80%
hoặc không nảy mầm.
|
|
1.6 Thời gian ra hoa kết
trái:
Cây dó bầu sau trồng khoảng 4-5 năm tuổi
thì bắt đầu ra hoa kết trái. Tùy vào điều kiện thời tiết
của mỗi vùng mà thời gian ra hoa có khác nhau. Ở Miền Trung
Việt Nam cây bắt đầu ra hoa vào tháng 3 và trái chín vào
tháng 7 dương lịch. Nhưng ở Miền Nam thời gian ra hoa tháng
2, trái chín tháng 5 – tháng 6 dương lịch.
|
|
2.Đặc
điểm sinh thái.
Trong
tự nhiên cây dó bầu thường mọc trong vùng rừng nhiệt đới
ẩm trên địa hình có độ cao so với mực nước biển từ 300 -1000m,
nhưng tập trung nhiều nhất ở độ cao 700m và rất thích hợp
ở những nơi có độ dốc từ 25 độ trở lên. Tuy nhiên trong
thực tế cây dó bầu vẫn sinh trưởng tốt ở những nơi có độ
cao trên dưới 40m so với mực nước biển.
2.1 Yếu tố khí hậu:
a) Ánh sáng: Cây dó bầu khi còn
nhỏ rất thích hợp trong điều kiện râm mát. Ở giai đoạn vườn
ươm – từ lúc nảy mầm đến 6 tháng tuổi – cây con cần được
che phủ ánh sáng từ 60-70%. Ở giai đoạn từ khi bắt đầu trồng
đến khi cây được 2 – 3 năm tuổi, nếu được che bóng cây sẽ
sinh trưởng và phát triển rất nhanh.
b) Nhiệt độ: Cây dó bầu có thể sinh
trưởng và phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ từ 15 độ
C – 30 độ C nhưng thích hợp nhất là từ 22 độ C – 29 độ C.
c) Ẩm độ: Cây dó bầu là loại cây ưa
ẩm nhưng không chịu ngập úng. Ẩm độ thích hợp để cho cây
phát triển là vào khoảng 80%. Khi còn nhỏ khả năng chịu
hạn của cây rất kém, nếu thiếu ẩm cây sẽ ngừng sinh trưởng
hoặc chết. Việc duy trì ẩm độ cho cây vào mùa nắng là vô
cùng quan trọng, nhất là cây ở giai đoạn 2-3 năm tuổi. Khi
cây đã lớn, việc tưới nước cho cây là không cần thiết do
bộ rễ đã ăn sâu vào trong đất để hấp thu lượng nước sẳn
có trong tự nhiên.
d) Lượng mưa: Khí hậu ở Việt Nam chia
làm 2 mùa rõ rệt – mùa mưa chỉ tập trung trong khoảng 6
tháng nhưng quyết định lượng nước cung cấp cho cây trong
cả năm. Cây dó bầu là loại cây chịu hạn kém, do đó lượng
mưa nhiều hay ít đều có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
sinh trưởng và phát triển của cây.
Trong
tự nhiên, cây dó bầu chỉ phân bố tập trung ở những vùng
có lượng mưa trung bình trong năm từ 1200mm trở lên. Lượng
mưa hàng năm có ảnh hưởng trên một khu vực rộng lớn, đây
là một trong những yếu tố có tính tiên quyết khi lựa chọn
và xác định vùng trồng.
2.2
Yếu tố đất đai:
Có
thể nói cây dó bầu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau
ngoại trừ đất cát nghèo kiệt, đất đá vôi và đất bị ngập
úng hoặc đất bị nhiễm phèn nhiễm mặn. Về mặt lý tính, đất
trồng phải có kết cấu từ trung bình đến tốt, nghĩa là tầng
đất mặt phải tơi xớp, khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt,
pH đất từ 5 – 6. Về thành phần dinh dưỡng, đất phải giàu
chất hữu cơ và các chất vô cơ.
Yếu
tố đất đai không những có ảnh hưỡng trực tiếp đến quá trình
sinh trưởng và phát triển của cây dó bầu mà nó còn liên
quan đến quá trình hình thành trầm hương ở trên thân g ỗ
của cây dó bầu. Theo Ông Nguyễn Hồng Lam (Viện đặc sản rừng)
thì sự hình thành trầm hương trong tự nhiên có liên quan
đến loại đất, một số nhân tố lập địa như đá mẹ, tỷ lệ đá
lẫn trong đất, độ dốc…
Loại
đất: Một số kết quả nghiên
cứu cho thấy, trong tự nhiên loại đất feralit nâu vàng phát
triển trên phiến sa thạch số cây có trầm và mức độ hình
thành trầm đạt tiêu chuẩn thương mại cao hơn số cây phân
bố trên loại đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ Granit.
Nhân
tố lập địa: Thường những cây phân bố ở điều
kiện lập địa có độ dốc lớn, tỷ lệ đá lẫn trong đất nhiều
thì sản lượng trầm khai thác được lớn, chất lượng trầm cao
và ngược lại.
Trong
thực tế, sản lượng cũng như chất lượng trầm hương thu được
từ cây dó bầu có sự khác nhau giữa các địa phương. Ở Việt
Nam, sản lượng và chất lượng trầm hương của các tỉnh Miền
Trung luôn cao hơn những nơi khác. Đặc biệt ở tỉnh Khánh
Hòa với địa danh nổi tiếng nhất từ trước đến nay là vùng
Vạn Giã – Vạn Ninh, đây là nơi có loại tr ầm kỳ tốt nhất
thế giới
Đó
là sự khác biệt về địa lý của trầm hương trong tự nhiên.
Còn về trầm hương nhân tạo thì cho đến nay các nhà khoa
học chưa có kết luận gì về mối liên quan giữa chất lượng
trầm và các yếu tố địa lý
3.
Tính đặc thù của cây dó bầu
Gỗ
cây dó bầu có khả năng hình thành một loại sản phẩm đặc
biệt gọi là trầm hương do cây bị một loại bệnh gây ra bởi
tác động bên ngoài. Đây là loại gỗ có nhiều điểm nhựa tỏa
ra mùi thơm và khi thả xuống nước thì chìm vì vậy có tên
là trầm hương. Vì “trầm” theo chữ Hán có nghĩa là chìm,
còn “hương” là mùi thơm.
Căn
cứ vào sự hóa nhựa nhiều hay ít mà có những sản phẩm như:
Tóc, Trầm hương và Kỳ nam.
- Tóc (có nguồn gốc từ chữ tok của người Campuchia): Do
sự biến đổi chất gỗ bên ngoài, thường dùng để làm nhang.
- Trầm hương: Do sự phân hóa không trọn vẹn của các phần
tử gỗ, gỗ ít tẩm nhựa hơn, màu nâu hay có sọc đen, nhẹ nổi
được trong nước, dùng để chưng cất tinh dầu.
- Kỳ nam (Nghĩa là điều kỳ diệu của phương nam): Do sự biến
đổi hoàn toàn của các phần tử gỗ - Các phần tử gỗ thoái
hóa, biến dạng, mất mộc tố chứa môt chất nhựa thơm – có
màu nâu đậm hay đen, nặng chìm trong nước, vị đắng , thường
hình thành ở phần lõi gỗ. |
[1],[2],[3],[4]
trang kế
|
|
|