"Ngậm
ngải tìm trầm” – Đó là câu nói của người xưa để tả sự gian lao
khắc nghiệt của những người thợ rừng trên đường đi tìm cái tinh
túy, quý hiếm nhất của núi rừng ấy là trầm hương.
Nếu như trước đây, trầm hương được coi là vật quý, chỉ để cống
nạp cho các bậc đế vương, thì ngày nay nhờ khoa học kỹ thuật phát
triển, trầm hương được sử dụng làm chất định hương cho mỹ phẩm
hảo hạng, làm được dược liệu chữa những căn bệnh hiểm nghèo. Giá
trầm hương loại 1 trên thế giới từ 6000 USD - 6500 USD/kg, giá
tinh dầu trầm khoảng 9000 USD/1lít.
Nhận thấy giá trị kinh tế của trầm hương, đồng thời trầm hương
thiên nhiên đã cạn kiệt mà nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao, ông
Nguyễn Ngọc Toản, Chủ tịch Hội đồng Quản Trị Công Ty Fong San,
đã bỏ ra hơn 20 năm nghiên cứu và thực nghiệm tạo trầm hương từ
cây dó bầu. “Có công mài sắt có ngày nên kim”, ông Nguyễn Ngọc
Toản đã tạo những phiến trầm đầu tiên khôg phải đâu xa mà ở ngay
trong lòng thành phố Hồ Chí Minh. Khi đã nắm chắc bí quyết thành
công, ông Nguyễn Ngọc Toản đã thuyết phục anh ruột của mình là
ông Nguyễn Trường Sơn mạnh dạn đầu tư lĩnh vực này, đó là trồng
cây dó bầu tạo trầm hương. Ông Toản kể : “Tôi đã rất nhiều lần
theo chân những người thợ rừng ngậm ngải tìm trầm. Không biết
từ bao giờ, những hiểu biết về trầm hương, về cây dó bầu đã ăn
sâu vào máu thịt tôi. Trong giấc ngủ tôi cũng mơ về…trầm. Rồi
có dịp sang Đoài Loan, Trung Quốc, Malayxia, Nam Phi…tôi nhận
ra một điều, khách hàng ở những nước này rất ưa chu ộng trầm hương.
Sang một số nước Trung Đông, tôi thấy người Hồi giáo vào tháng
ăn chay Ramađa, thường dùng loại tinh dầu có trầm hương để tắm.
Cho nên giá cỡ nào họ cũng mua…”
Trang trại dó bầu đầu tiên do ông Toản và ông Sơn đầu tư rộng
60ha ở xã An Khương – Huyện Bình Long – Tỉnh Bình Phước. Nhìn
những cây dó bầu vừa tròn 5 tuổi xanh mướt đầy sức sống, những
người làm trang trại ở đây cho biết : “Sau khi mua giống ở Quảng
Nam, Phú Quốc về, ông Toản và ông Sơ đã ươm hàng trăm ngàn cây
giống ở huyện Bình Chánh – thành phố Hồ Chí Minh rồi chở lên trang
trại. Mỗi ha trồng được 1200 cây. Trừ tiền mua đất tổng cộng mức
đầu tư 4 năm đầu trên đưới 20 triệu đồng cho mỗi ha. Từ năm thứ
5 trở đi, chi phí đầu tư sẽ giảm dần và đã cho thu hoạch từ trái,
đến năm thứ 10 trở đi có thể thu hoạch đại trà.Cây dó bầu rất
dễ trồng, có thể trồng xen với đậu, cà phê và một số cây trồng
khác. Có thể khẳng định không có cây nào mang lại hiệu quả kinh
tế bằng cây dó bầu, nó phải được gọi là cây vàng đen mới đúng…”
Thử làm một con tính: Bình quân mỗi cây dó bầu thu hoạch được
trầm loại 4, loại 5 thôi cũng được từ 5 đến 8 triệu đồng, mỗi
ha khoảng 1200 cây cứ thế nhân lên bỏ túi trên 5 tỷ bạc chứ ít
ỏi gì. Như vậy 60ha dó bầu đến kỳ khai thác, Fong San thu về sít
soát 300 tỷ đồng, quả là một số tiền khổng lồ. Về biện pháp cấy
vết thương tạo trầm, ông Toản giải thích: “Trầm hương thiên nhiên
là do sâu bệnh châm chọc, hay cành bị gãy vì thời tiết, bom đạn…
khiến cây bị vết thương mà thành. Còn để có trầm hương nhân tạo
chỉ bằng cách làm cho cây dó bầu bị thương như dùng khoan khoan
sâu vào thân, lấy mảnh thép găm sâu vào thân cây và tiêm vào đó
một hỗn hợp hóa học kích thích tạo trầm do ông Toản dày công nghiên
cứu, pha chế thành. Thời gian trôi qua từ 4 năm trở lên, nước
mưa thấm vào, hòa với nhựa của cây, sẽ kết trầm”. Hiện nay cây
dó bầu đã được trồng ở Bình Phước, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Quãng Ngãi,
Quy Nh ơn với tổng diện tích gần 200 ha. Cây dó bầu cũng đang
được trồng ở Tây Nguyên vì ở đây là vùng đất rất có tiềm năng
đế phát triển cây trồng này. Công ty Fong San đã trồng ở huyện
Ayunpa, tỉnh Gia Lai 1000ha và đang hợp tác với nhiều tổ chức
doanh nghiệp và tư nhân ở Tây Nguyên nhằm phát triển mạnh mẽ cây
dó bầu.
Ông Nguyễn Ngọc Toản nói: “ Đánh giá vùng Tây Nguyên của mình,
một là quỹ đất, hai là thiên nhiên ư u đãi về khí hậu, thứ ba
là nguồn nhân lực đang dư thì chúng tôi đầu tư vào vùng Tây Nguyên.
Để cho phát triển được, chúng tôi xin kiến nghị với các cấp chính
quyền có một hành lang pháp lý để bà con trồng cây dó bầu và phát
triển cây này trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung và vùng Tây
Nguyên nói riêng. Thứ nhất là hỗ trợ vốn cho bà con nông dân.
Thứ hai là mở cửa cho trầm đi ra nước ngoài, vì tất cả các nước
hiện nay trong khối ASEAN đều có chợ trầm, riêng Việt Nam mình
chưa có.
Nhà nước ta đã ra lệnh cấm khai thác bừa bãi trầm tự nhiên từ
năm 1997. Nay ta đã có trầm nhân tạo, sản lượng khá. Vậy nhà nước
nên mở cửa và tạo thuận lợi cho nghề trầm của ta phát triển, vừa
ích cho quốc vừa lợi nhà. |
|