| Hỏi
vì sao ông thích núi, nhà sư thủng thẳng: "Kẻ nhân thích
núi, kẻ trí thích biển". Ơ suối Đá Bàn, ông cùng một đệ tử
tự trồng trọt sinh sống. Và cây dó bầu của ông hôm nay cũng có
nhân duyên từ ngọn núi ngoài hải đảo xa xôi ấy.
Nhà sư kể lại, năm 1982, có một du khách đi tham quan đảo Phú
Quốc, tình cờ ghé qua hang đá của ông. Người khách ấy tự giới
thiệu là tiến sĩ sinh học, hai bên trò chuyện việc đạo việc đời
rất tâm đắc. Biết ông thích trồng trọt, vị khách chuyển sang đề
tài trồng rừng và khuyên nên trồng cây dó. Rồi phân tích về giá
trị kinh tế của trầm hương, là một loại sản phẩm quý có từ cây
dó bầu. Nếu nuôi trồng được nhiều diện tích, sẽ có tiền để giúp
ích cho đời, ước nguyện xây một bệnh viện miễn phí cho người nghèo
của nhà sư nào có sá gì. Nhà sư cảm kích trước ý kiến của vị tiến
sĩ, rồi hỏi biết tìm đâu ra giống, và làm cách nào cho ra sản
phẩm quý hiếm là trầm. Vị tiến sĩ hứa sẽ giúp cây giống, còn tạo
trầm thì còn quá sớm để nói, và đó là công việc của các nhà khoa
học. Ông ta chỉ cho nhà sư rằng ở xã Hàm Ninh - Phú Quốc có vườn
cây ăn trái của anh Lập, cán bộ nông nghiệp của huyện, có giống
cây dó bầu. Sau đó, nhà sư tìm đến và xin được rất nhiều giống
đem về trồng tại suối Đá Bàn. Năm 1992, sư Thích Giác Nhi đưa
giống cây này về trồng ở núi Chứa Chan.
Sau nhiều năm tự nghiên cứu, nhà sư rút ra được kinh nghiệm rằng,
cây dó thích hợp với nhiều loại đất, nhưng đất phải cao, không
bị ngập úng vì quê hương của cây dó là núi rừng đại ngàn. Hạt
dó cũng rất khó tính, hái rồi là phải ươm, gieo liền. Gieo ươm
trễ một ngày thì giảm tỉ lệ nảy mầm một phần. Ông đưa ra 3 cách
ươm, cách nào cũng đơn giản, dễ thực hiện. Khi hạt ra cây con
độ 3 tuần tuổi thì bứng đưa vô bầu, phải làm giàn che cho mát,
nếu không có lưới che mát thì phải có hệ thống tưới quay phun.
Cây giống từ 6 tháng tuổi trở lên, cao từ 3 - 4 tấc thì có thể
trồng được. Thời điểm trồng là đầu mùa mưa, khi nào lượng nước
mưa đủ ướt đều mặt đất. Trồng cây cách nhau 4m, hàng cách hàng
5m. Ông nói: "Cha ông đã dạy "Lập vườn đừng cho đụng
lá, nuôi cá đừng cho đụng vi". Còn tôi nghĩ rằng, con người
thích tự do tự tại, không muốn để bị ai gò bó, ép buộc. Cây cối
cũng vậy thôi".
Ông sư "kinh tế"
Người dân trong vùng gọi sư Thích Giác Nhi là ông sư "kinh
tế". Đơn giản là từ khi về sống ở vùng núi này, nhà sư quần
quật với đất, tự kiếm ra cái ăn cho mình, cho tăng ni. Cùng với
việc trồng 5.000 cây dó, nhà sư trồng nhiều loại cây khác xen
canh để lấy ngắn nuôi dài. Ban đầu một mình nhà sư lăn lóc dưới
chân núi, về sau có đệ tử theo học đạo, vừa tu tập vừa trồng cây
với thầy. Học đạo qua việc đời, mà cụ thể là gieo từng hạt giống
của cây dó, chăm sóc cho nảy mầm, lên cây. Trong tịnh thất có
12 tăng, ni, trồng hoa màu xen canh mỗi năm thu được khoảng 100
triệu đồng. Số tiền này đủ cho thầy trò sống mà trồng dó, trích
ra một ít chi cho phòng khám đông y do nhà sư lập ra để khám chữa
bệnh từ thiện. Ngoài tăng ni trong chùa, còn có người dân trong
thôn đến làm việc trong vườn ươm và được trả công xứng đáng. Ông
dạy đệ tử không những phải làm việc để tự nuôi sống mình mà còn
phải giúp đỡ người khác kiếm sống, ông đặt thơ: "Tu không
giúp đỡ thôn dân/Chữ tu ấy có ai cần làm chi".
Chuyện làm ăn của sư Thích Giác Nhi từ cây bầu dó còn mang lại
hiệu quả bất ngờ hơn. Sau 10 năm trồng cây đến tuổi cho ra hạt,
ông lấy hạt ươm và cho cây giống. Từ khi đưa hạt vào bầu ươm cho
đến khi có cây giống bán mất 10 tháng. Cây giống dó bầu rất khan
hiếm nên giá khá cao. Một cây ở nơi khác bán 7.000 đồng, riêng
vườn của ông sư "kinh tế" chỉ bán 5.000 đồng. Ông tính
toán: "Một cây giống, tôi chi phí 2.500đồng, bán 5.000 đồng
là có lời rồi. Một năm, tôi bán ra được 1,2 triệu cây giống, lời
được 3 tỉ đồng". Ông cho biết thêm, hiện nay vườn dó có 700
cây cho quả để lấy hạt làm giống, mỗi năm thu được gần 300kg hạt,
đủ khả năng sản xuất trên 2 triệu cây giống. Bài toán kinh tế
của nhà sư không dừng lại ở đó, ông đưa cho tôi xem bản phân tích
hiệu quả kinh tế của việc trồng cây dó. Ông tính toán chi phí
đầu tư cho mỗi hécta từ năm thứ nhất đến năm thứ 15 khoảng 125
triệu đồng, khai thác và chế biến khoảng 15 triệu đồng, tổng cộng
chi phí đầu tư khoảng 140 triệu đồng/hécta.
Bài toán thu lãi cũng rất rõ ràng, mỗi cây trầm dó từ 12 đến 15
năm tuổi cao từ 8 - 10m, bình quân trọng lượng mỗi cây từ 50 -
80 kg, đem chế biến thành bột trầm. Tính bình quân từ 60 - 70kg,
mỗi kilôgram giá bình quân 100.000 đồng. Như vậy, mỗi cây tính
thấp nhất cũng thu được 5 triệu đồng. Mỗi hécta trồng được 1.000
cây. Thu được 5 tỉ đồng, trừ chi phí đầu tư, lãi được trên 4,8
tỉ đồng. Tôi hỏi sư có chắc ăn lãi to như thế không, ông nói vẫn
có những phát sinh làm tăng chi phí đầu tư hay các rủi ro khác,
nhưng chắc chắn an toàn vì lợi nhuận từ cây dó quá cao. Ông phân
tích tiếp: "Đó là tôi chỉ đề cập đến cái khiêm tốn nhất là
làm bột trầm. Còn nếu có kỹ thuật và đầu tư xử lý tạo trầm thì
hiệu quả kinh tế còn cao hơn nhiều. Trầm hương dùng làm vị thuốc,
hương liệu, nước hoa cao cấp, ướp xác. Tuỳ theo chất lượng của
trầm mà có được giá bán cao hay thấp".
Tôi đã từng theo đoàn quân "phá sơn lâm" ở miền Trung
lên rừng tìm trầm, đã chứng kiến thợ rừng phải hạ hàng chục cây
dó mới tìm được một cây có trầm, sức tàn phá của con người nhanh
chóng đến độ chỉ trong vòng chừng 10 năm, rừng già Trường Sơn
vắng bóng cây trầm. Trong những chuyến đi ấy, tôi đã chứng kiến
những người đi trầm chết vì sốt rét, rơi vực, bị rắn độc cắn...
đúng như người xưa nói: "Ăn của rừng rưng rưng nước mắt".
Tôi cũng đã từng theo thương lái buôn bán trầm hương từ miền Trung
vào TP HCM , và biết được trầm hương quý giá như thế nào. Chính
vì vậy, tôi hiểu được rằng, việc đầu tư trồng rừng dó là vô cùng
cần thiết, có ý nghĩa nhiều mặt đối với nước nhà. Bái phục ông
sư "kinh tế". |
|