HỘI ĐÃ KHẲNG ĐỊNH HAI VẤN ĐỀ
:
Một là, cây dó bầu hương được người nông dân trồng là cây dân
sinh, không phải là cây rừng; do vậy, họ có quyền khai thác để
mưu cầu cho đời sống của mình, đồng thời, góp phần vào sự phồn
vinh của nền kinh tế đất nước.
Hai là, việc cấy trầm hương nhân tạo trong thời điểm hiện nay
là có căn cứ thực tế và có cơ sở khoa học. Đó là thành tựu đáng
kể của những người nông dân và của các nhà khoa học, đóng góp
vào sự phát triển bền vững và đa dạng của nông nghiệp Việt Nam
trong thời kỳ mới.
MONG MUỐN CỦA CÁC HỘI VIÊN:
Ý kiến của ông Nguyễn Ngọc Toản, Lê Duy Minh…và đa số các hội
viên khác đều có điểm chung về vị thế của cây dó bầu. Họ đề nghị
Nhà nước công nhận cây dó bầu dân sinh hiện nay là cây trồng chính
thức trong cơ cấu cây trồng của nông nghiệp Việt Nam. Các ngành
chức năng như: Trung tâm khuyến nông của các địa phương và các
doanh nghiệp có sự quan tâm đúng mức và thiết lập những biện pháp
thích hợp cho chương trình và qui trình quản lý giống, ươm và
cung cấp giống đúng chuẩn, nhằm khai thác trầm hương đạt hiệu
quả kinh tế cao nhất.
TS. Nguyễn Văn Minh, lại quan tâm đến mối quan hệ tương quan giữa
người trồng và cây trồng. Ngoài số ít chủ trang trại có khả năng
đầu tư, đại đa số người nông dân Việt Nam còn nhiều khó khăn.
Họ chưa có tích lũy để trang trải đời sống trong thời gian từ
7 đến 10 năm để chờ trầm hương kết tụ và thu hoạch… Nên chăng,
Nhà nước có chính sách hỗ trợ vốn cho người nông dân nghèo thông
qua các chương trình trồng rừng (tương tự chương trình 327 hay
773 về phủ xanh đất trống đồi trọc, 611 trồng keo lai…), hoặc
ngân hàng cho vay vốn ưu đãi trả chậm…
Kỹ thuật cấy trầm và tinh trầm cũng đang là vấn đề mang tính “thời
sự”. Trong khi kỹ thuật tạo trầm hương (nói chung) không còn là
bí quyết của riêng một số người thì đồng thời xuất hiện sự bát
nháo về kỹ thuật và tác quyền sáng chế. Mỗi người trồng dó bầu
có kiểu cách, kinh nghiệm khác nhau để tạo trầm. Trong khi đó,
Nhà nước chưa qui định cơ quan nào có chức năng quản lý, kiểm
định và đối chứng nhằm thống nhất những chỉ tiêu kỹ thuật chủ
yếu cho trầm hương nhân tạo Việt Nam, để đề ra một giải pháp tối
ưu cho việc cấy trầm. Nếu không sẽ dẫn đến sự thất bại sau thời
gian dài đầu tư trồng cây dó…
Một
vài doanh nghiệp như Công ty Tinh Đất Việt – dù đã có những
thành công nhất định trong việc nghiến cứu tạo ra những
hóa chất xúc tác tạo trầm cho cây Dó có chất lượng, năng
suất và hiệu quả cao, Công ty vẫn đang tiếp tục quá trình
phối hợp với nông dân ở các địa phương để thể nghiệm các
loại hóa chất xúc tác tạo trầm chất lượng cao, dùng kết
quả thực tế đó khẳng định uy tín và thương hiệu Tinh Đất
Việt. |
Song
song với việc tạo trầm, thì chất lượng, tiêu thụ trầm với số lượng
lớn và việc sản xuất tinh dầu trầm cũng là vấn đề rất bức xúc
của Hội. Những thiết bị nhỏ, chưng cất tinh dầu hiện có sẽ không
đáp ứng được nhu cầu trong thời gian tới, do công nghệ thô sơ
ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu (giá tinh dầu trầm hiện nay
là 5.000 – 7.000 USD/lít ở Việt Nam so với 40 – 50.000 USD/lít
tinh dầu trầm trên thị trường thế giới là một thiết thòi rất lớn
đối với nông dân cũng như nền kinh tế đất nước. Vì vậy phải có
sự trợ giúp của các ngành, các cấp và phải có những chính sách
cụ thể của nhà nước mới có thu được ngoại tệ.
Hiện có hơn 10.000 ha cây dó bầu, gần 1000 ha đang vào thời ký
khai thác. Ông Bùi Trung Kiên, Chị Nguyễn Thị Ánh và Nguyễn Ngọc
Toản (TPHCM)… cho biết: do giá bán trầm hương Việt Nam hiện nay
còn thấp và chỉ bán theo đường phi mậu dịch, nhiều chủ trang trại
trồng dó còn chưa khai thác, họ đang chờ đợi một thời cơ mới…
Hội nghị lần này (26/11/2004), Hội Trầm hương Việt Nam kiến nghị
những vướng mắc của mình và mong chờ một cơ chế cho phép khai
thác, sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu trầm hương nhân tạo được
Chính Phủ xen xét và ban hành. Để từ đó, các ngành chức năng phối
hợp với Hội có căn cứ hoạch định chiến lược và bước đi phù hợp
phát triển cây dó bầu trong giai đoạn 2004 – 2009. |
|